MON - FRI : 09:00 AM-18:00 PM
VIEVI

Malvertising

Tháng 10 22, 2026

Malvertising (quảng cáo độc hại, ghép từ malicious và advertising) là việc dùng quảng cáo trực tuyến để phát tán mã độc hoặc dẫn người dùng tới trang lừa đảo. Kẻ gian mua quảng cáo qua mạng quảng cáo hợp pháp hoặc chiếm tài khoản của doanh nghiệp, nên quảng cáo độc hại có thể hiện ngay trên trang tìm kiếm.

Malvertising là gì?

Phần lớn các kiểu gian lận quảng cáo nhắm vào tiền nhà quảng cáo. Malvertising nhắm vào người xem. Doanh nghiệp bị kéo vào khi thương hiệu bị giả mạo trong quảng cáo lừa đảo, hoặc khi trang đích, tài khoản quảng cáo của họ bị hack.

Google định nghĩa mã độc (malware) là phần mềm nhằm gây hại hoặc truy cập trái phép máy tính, thiết bị, mạng. Google Ads xếp phần mềm độc hại vào chính sách Lạm dụng mạng quảng cáo (Abusing the ad network). Cố ý phát tán mã độc thì tài khoản bị tạm ngưng ngay khi phát hiện, không cảnh báo trước (Google Ads Help, Abusing the ad network, truy cập 10/2026). Ví dụ gồm ransomware, phần mềm gián điệp, chuyển hướng cưỡng bức tới trang nhiễm mã độc khi người dùng chưa bấm quảng cáo (Google Ads Help, Malicious software, truy cập 10/2026).

Cùng nhóm còn có cloaking: cho Google và người dùng thấy nội dung khác nhau để giấu vi phạm (Google Ads Help, Circumventing systems, truy cập 10/2026).

Năm 2025 Google chặn hoặc gỡ hơn 8.3 tỷ quảng cáo, nhóm Lạm dụng mạng quảng cáo đứng đầu với hơn 1.29 tỷ. Phía publisher, hơn 2 triệu trang bị xử lý vì mã độc hoặc phần mềm không mong muốn (Google, 2025 Ads Safety Report, 04/2026).

Cách malvertising hoạt động

  1. Quảng cáo tìm kiếm giả thương hiệu. Kẻ gian mua quảng cáo với tên miền gần giống doanh nghiệp thật, dẫn tới trang giống hệt trang chính thức. Người tìm phần mềm tải về mã độc mang đúng tên phần mềm, người tìm sàn tiền mã hóa bị lấy thông tin đăng nhập (FBI IC3, 12/2022).
  2. Chuỗi chuyển hướng trên trang kém chất lượng. Tháng 12/2024, Microsoft phát hiện chiến dịch ảnh hưởng gần 1 triệu thiết bị: mã chuyển hướng nằm trong khung phim trên trang phim lậu, qua 4 đến 5 lớp rồi tới mã độc lưu trên GitHub (Microsoft Security Blog, 03/2025).
  3. Trang đích bị hack. Website hợp pháp bị chèn mã bật pop-up, chuyển hướng hoặc cài mã độc, ví dụ qua lỗ hổng CMS. Google Ads gọi là Compromised sites và từ chối quảng cáo trỏ tới trang đó (Google Ads Help, Compromised sites, truy cập 10/2026).

Dấu hiệu doanh nghiệp đang bị ảnh hưởng

  • Tìm tên thương hiệu thấy quảng cáo dùng tên bạn nhưng tên miền sai chính tả.
  • Quảng cáo bị từ chối vì Compromised site, Search Console báo vấn đề bảo mật, Chrome hiện cảnh báo đỏ của Safe Browsing.
  • Tài khoản quảng cáo có người dùng mới hoặc quảng cáo trỏ tới tên miền lạ.

Cách phòng tránh

  1. Bật xác minh 2 bước cho mọi tài khoản quản trị quảng cáo, rà danh sách người dùng định kỳ.
  2. FBI khuyên dùng dịch vụ báo khi có tên miền giống tên miền của bạn được đăng ký, và chỉ rõ cho khách nơi tải phần mềm chính thức.
  3. Cập nhật CMS, theme, plugin. Bị từ chối vì Compromised site thì dọn mã lạ, kiểm tra trang trên Safe Browsing rồi kháng nghị. Google cảnh báo ít nhất 7 ngày trước khi tạm ngưng tài khoản vì lỗi này.
  4. Với quảng cáo hiển thị, loại trừ vị trí như trang phim lậu, vừa giữ an toàn thương hiệu (brand safety) vừa tránh mã chuyển hướng độc hại.

Phân biệt với các thuật ngữ dễ nhầm

Malvertising Ad injection Domain spoofing
Mục đích Lây mã độc, lừa người xem Chiếm chỗ quảng cáo trên trang người khác Bán inventory rác dưới tên trang uy tín
Người thiệt nhất Người dùng, thương hiệu bị giả mạo Chủ trang, nhà quảng cáo Nhà quảng cáo

Câu hỏi thường gặp

Malvertising có phải adware?

Không. Adware là phần mềm nằm trên máy và tự hiện quảng cáo. Malvertising đi qua quảng cáo thật, và có thể là đường để cài adware.

Chỉ xem quảng cáo có bị nhiễm mã độc không?

Google có nêu kiểu chuyển hướng cưỡng bức khi người dùng chưa bấm. Trong cảnh báo của FBI, mã độc đến từ file người dùng tự tải về.

Muốn rà lại quyền truy cập tài khoản quảng cáo, trang đích và vị trí hiển thị, bạn có thể liên hệ Adtek.